Giọt máu chung tình — Hồi thứ tư

HỒI THỨ TƯ

Dạo Hoa-viên gặp đứa cường đồ

Cứu Thục-nử ra tay thũ đoạn

Gương ô thấm thoát, trời đã xế chiều, ngọn kim phong
phưởng phất gió hiu hiu, như dục khách thừa lương
ngoạn cảnh.

Đông-Sơ mới sửa sang xiêm áo, rồi đi dạo xem cảnh
vật sơn xuyên, chợt thấy bên mái Tây-hiên, đồ sộ một tòa
thành quách, bèn lần lần đi tới, thì rỏ ràng một cãnh
Hoa-viên, chổ thì liễu dựng tàng cao, chỗ lại cây khoe
bóng mát. Kìa, đỏng đãnh mấy nhành dương xao xác,
nhúng tới đưa lui, dường như nó thấy khách tha hương,
mà múa men mừng rở. Nọ, lăng liếu mấy con hoàng anh
thỏ thẻ, nó đáp lại bay qua, dường như thấy khách phương
xa, nhảy ra mà chào hỏi.

Đó rồi ngó lại phía sau, thấy một vòng thành rộng rãi,
nguồn súi bọc quanh, dòng nước trong xanh, nó chảy nghe
rĩ rã. Thật là, một cãnh tình thanh lịch, xem dường cữa
động đào nguyên. Ngoài thì có vách phấn tường vôi, xây
bọc một vòng viện-lạc.

Đông-Sơ dừng chơn đứng ngó một hồi, thấy phía trước
xa xa, có một tòa nhà rất nguy nga đẹp đẻ; rồi đi sang
qua phía tã, thì thấy một hòn giã sơn chớn chở, ở giữa
hồ sen; gộp đá do de, nước khe trong vẻo. Thật là:

Hoa cỏ mĩa mai vườn Thượng-huyển,
Nước non mườn tượng cãnh Bồng-lai.

Gần đó có một tòa nhỏ nhỏ, ở dựa mé tường, trước có
trồng một bụi Hãi-đường, với vài đóa Phù-dung, nó đương
sánh sắc so tài, mà khoe màu rực rở. Đông-Sơ bèn nom
men bước tới, thấy có một tấm biển sơn đen, đề ba chử
« Quan-âm-Cát » rỏ ràng, nét vàng chói ra rành rạnh.

Trong lúc đương đứng xem hoa nhắm cãnh, phúc đà
nhựt dĩ trầm tây, kế trống đền quân hơi vẳn vẳn mái đông
thành, tiếng khoan nhặc đã nghe thùng thùng rắc rắc, cái
tiếng ấy nó thĩnh thoản bên tai, dường như kêu khách du
phương mà thôi thúc rằng: « Trăng đà lộ bóng, trời đã tố ​rồi, sao chưa vội trở gót hài, mà còn ngẩn ngơ ở đó? »
Nhưng mà Đông-Sơ mãng mê theo cái cảnh kỳ hoa dị thảo,
thinh lịch u-nhàn nầy mà đứng sửng trơ trơ, dựa nơi góc
tường kia, như tuồng ai đem hồ keo chi mà dán vào đó vậy.

Lúc ấy trăng thu tỏ rỏ, bóng dọi tường thành, Đông-Sơ
ngó quanh thấy một cái cữa nhỏ, thì xô cửa bước vô, rồi
đi lần tới Quan-âm-Cát, đương đứng nhắm trước xem sau,
bổng thấy một vị tiểu-thơ ở trong tòa nhà lớn phía trên
bước ra, rồi xâm xâm đi tới, và có một đứa thễ-nử bưng
hương đăng trà quã theo sau. Đông-Sơ vội vã ẩn theo bóng
cây, rồi bước vào bụi phù-dung mà núp.

Khi cô ấy và thể-nữ đi thẳng tới Quan-âm-Cát, rồi mở
cữa bước vô. Đông-Sơ lén lén bước theo, thì thấy thễ-nử
sữa soạn thấp hương, còn Tiễu-thơ thì đứng trước tòa
Quan-âm, khấn vái lâm dâm rồi nghiên mình cúi lạy.

Cơn ấy đèn khêu tỏ rỏ, trăng dọi sáng lòa, thì rỏ ràng là
một người tuyệt sắc giai nhân, mình mặt một vóc áo cẩm-nhung, đầu dắt một nhành trăm kim tước, tay đeo chiếc
vòng kim xuyến, nhận ngọc kim-cang, cổ mang sợi chiềng
liêng-hoàn; xen hàng cẩm thạch, tóc mây dợn tráng,
dường như tiên-nữ xuống phàm gian, má phấn ững hồng,
mườn tuợng phù dung khoe sắc lịch, dung nghi yểu điệu,
cốt cách diệu dàng. Đẹp thay một vẻ hồng nhan, đáng mặt
hương trời sắc nước, thật là:

Rỏ ràng trong ngọc trắng ngà,
Phong-nghi sẳng đúc một tòa thiên nhiên.

Khi Đông-Sơ đương núp dựa vách mà coi, thì thấy phía
bên kia, có một bóng đen đương leo qua vách tường
nhảy vô, rồi lại đứng trước Quan-âm-Cát, tay cầm một
ngọn đãn đao, mặt mày dữ tợn, mắt ngó lườm lườm
Tiễu-thơ.

Đông-Sơ biết là một đứa hung-đồ, chẳng phải người
lương-thiện. Kế đó tiểu-thơ trong cát bước ra, thằng
cường-bạo kia nhảy xốc lại, dơ đao vừa muốn đâm tiễu-thơ, thì Đông-Sơ đã nhãy tới lẹ như nháy mắt, gạt cánh
tay thằng ấy một cái rất mạnh, làm cho cây đãn đao kia
văng lên trên không, rồi rớt trước mé thềm, tiếng nghe
cang cãng.

​Thằng khốn ấy bị Đông-Sơ đánh bồi thêm một cái nữa,
té nhào xuống đất, nằm mà bất tĩnh. Lúc đó tiểu-thơ và
thế-nữ hoản kinh, chạy trở vào đứng núp trong miểu.

Đông-Sơ lật đật lượm cây đao lên cầm nơi tay rồi,
bước vô cúi đầu chào tiểu-thơ và nói cách lể nghi tề chỉnh
rằng: « Xin cô chớ sợ, cây đao của tên khốn nạn nầy đã
vào tay tôi đây, không sao phòng ngại. »

Tiễu-thơ nghe nói thì đã hồi tâm định tĩnh, rồi chẩm
rải bước ra, thì thấy thằng ấy đã tĩnh hồn, và lồm cồm
ngồi dậy.

Đông-Sơ bèn nói với tiểu-thơ rằng: « Xin cô hãy bước
ra hỏi nó vì cớ nào dám vào đây mà làm đều ám hại như
vậy. »

Song sự dử tợn thình lình ấy đã làm cho tiễu-thơ kinh
tâm táng đởm, mà ngơ ngẩn sững sờ. Nhưng tiễu-thơ tuy
là phận quần xoa bồ liểu, song cũng có chí khí liệt nử
thuyền quyên, nên đổi sợ làm thường, đỗi kinh làm tĩnh,
rồi bước tới cách dạng dĩ nghiêm trang, mà hỏi rằng:

« Ớ tên khốn nạn kia, ta vẩn làm người khuê môn bất
xuất, ở nơi tữ cát hồng lâu, ta chẳng hề làm đều chi khắc
bạc hành hà, cũng chẳng hề làm một chi gây thù kết hận,
cũng chẳng làm đều chi mích lòng đến ngươi và xúc phạm
đến ai hết cã, sao mi chẳng biết lấy sự lễ nghi khuôn
phép, mà đối đãi với một bực thục-nữ thuyền-quyên, mi
lại mua chác những sự tàng bạo hung hăn, mà bán lương
tâm cho ma quĩ? Mi chẳng kiên pháp luật, chẳng kể ngục
hình, và dám đến đây thình lình, mà làm đều ám hại như
thế? »

Tên kia nghe hỏi thì lồm cồm đứng dậy rồi nói: « Tôi
là một đứa nghèo khỗ cơ hàng, ăn chẳng bữa nào no,
mặt không bữa nào ấm, lấy đình miểu làm nhà, lấy
đất gạch làm chiếu, lấy rừng bụi làm xóm riềng, lấy
rau cỏ trái cây làm cơm gạo. Cái sự đói khác ấy làm
cho tôi hết biết lễ nghi pháp luật, hết biết liêm sĩ phải
chăng, nó làm cho tôi giận đất ghét trời, ghét tạo hóa
chẳng công bình, để cho kẻ giàu có kia cửa tía lầu son,
đễ cho kẻ hào hộ kia của tiền dư giã, miếng ngon ăn ​chẳng hết, gấm nhiễu mặt ê-hề, cho đến cỗ. Chuỗi tay
vòng, bông xoàn xuyến ngọc, còn kẻ thì bụng đói xếp ve
như chằn hiu, cơm chẳng đủ ăn, làm cho máu hết thịt
tiêu sường lòi mắt lộ như khu chén; làm cho hết biết sự
vui sướng trong cỏi nhơn gian, hết biết sự sống của
người dương thế. Sự đói khác khốn nạn nầy nó dục tôi
đêm nay đến đây mà giết cô, lấy cái của dư dã nó nhỏng
nhảnh ràng buộc nơi cánh tay cô; đặng đem về mà đở
đói ít ngày, rồi chết cũng cam tâm với thằng tạo hóa. »

Tiểu-thơ nghe tên ấy nói bấy nhiêu lời, thì nét mặt có
sắc thãm sầu, và thở ra một cái, rồi làm thinh chẳng nói.

Đông-Sơ thấy vậy thì bước tới kêu tên ấy mà nói rằng:
« Ớ tên kia, mi nói rằng mi oán trách Tạo-hóa chẳng công
bình, để cho mi đói khác cơ hàn, nên mi phải giết người
mà lấy cũa phải chăng? Song những đều mi thán oán nãy
giờ, không hề làm cho động lòng một ai mà thương xót
mi đặng. Vì những lời mi thán oán đó là lời của một đứa
táng tận lương tâm; của một đứa điên cuồng dại dột, vì
cái lương tâm và linh hồn mi nay đã bị một con quĩ tàng
bạo nó hãm hiếp buộc ràng, nó bĩ sữ sai khiến mi làm
những đều nhẩn tâm hại lý, khốn nạn dử dằng, nên mi
đem gươm đao mà làm một trò chơi với máu men xát
thịt của người vô cang; mà mi không ăn năn hối ngộ.

Ta nói cho mi biết, những sự giàu có của cãi kia, là
bởi trong cái giọt nước mồ hôi mà nhỉ ra, ở trong trí não
tài năng của người, tính lo cực khỗ mới có đặng. Nào, có
phải cái cũa cãi ấy Tạo-hóa đem đến mà cho riêng một
người nào đâu? Sao mi gọi rằng Tạo-hóa chẳng công-bình
mà hờn trời giận đất?

Vã lại mọi người trong thế-gian nầy, đều có quyền tự-do thong thã, mà hưởng dùng sự phú quí tiền tài của
mình, chẳng hề một ai đặng dòm hành xúc phạm. Nếu
lấy những đều tàng bạo hung gian mà xúc phạm cướp
đoạt của người, thì phép luật kia sẻ cang dự vào, ngục
hình kia nó ở trước mắt, gươm đao kia, nó kề bên cỗ,
trăng trói kia ở nơi chơn tay, cái địa-ngục kia ở sờ sờ nơi
cỏi nhơn-gian, nào phãi nơi miền địa-phũ.

​Mi hãy chống con mắt cho lớn lao mà coi, những đứa
đoạt tài hại mạng người ta, không bao giờ khỏi vào nơi
cái địa-ngục ở thế gian nầy đặng.

Nhưng ta tưởng cập mắt của mi, ngày nay đã bị con
quĩ tàng-bạo kia nó che lấp, dầu có mắt cũng như đui, có
xát mà không hồn là ngươi bây giờ đó!

Ớ tên cường-bạo kia ôi! ta ứa nước mắt mà khóc giùm
cho cái linh hồn mi đã chết rồi, cái xát thịt tuy còn chạy
chạy đi đi trong cỏi thế-gian nầy, song cái lương-tâm đã
mất, duy còn một hơi thoi-thóp đó mà thôi. Nếu mi chẳng
biết cãi ác tùng lương, khử tà qui chánh, thì cây đao phép
luật nó sẻ kề nơi cỗ mi, mà làm cho mi đầu một nơi
mình một ngã.

Ớ tên khốn nạn kia ôi! nhưng ta chẳng nở để cho mi
mang những đều lỗi lầm tội ác ấy, vậy ta khuyên ngươi
phải sữ động cái tâm thần mi lên cho mạnh mẻ, kêu rũ
mấy cái gân cốt huyết mạch mi, kêu rũ cái gan đãm tinh
thần cũa mi, đặng xúm lại mà xua đuổi con quỉ tàng bạo
kia, nó ở trong trái tim mi, nó đã cám dỗ xui dục mi bấy
lâu nay, làm cho mi ra một đứa ác nhơn, nửa sống nữa
chết. Cái nghề leo tường khoét vách, cái nghề đón ngả
chận đường ấy có tốt lành chi, mà mi đeo đuỗi tập luyện.

Ớ tên kia ôi! Vậy ta xin khuyên ngươi một lời chót
nầy nữa; là ngươi hãy mau mau cãi ác tùng lương, khữ
tà qui chánh, đặng lo mà làm ăn công nghệ, lo mà buôn
bán sanh nhai, lo giúp đở đồng-bào mà cạnh tranh quyền
lợi; làm sao cho ra một người ích nước lợi nhà, mà đứng
đợt với vỏ-trụ sang hà, cho khỏi mang tiếng nhục nhơ
nòi giống. »

Tên kia gục đầu nghe biện chiếc một hồi, rất rỏ ràng
sách hoạch, dường như cái lưởi Đông-Sơ đã thành ra một
ngọn dao bén kia, đem mà châm chít trong gan ruột tâm
thần, rất đau đớn nhức nhối hơn là dao thiệt kia đâm vào
xát thịt. Những lời ấy rỗng-rỗng rãng-rãng ở trong chót
lưỡi Đông-Sơ tuông ra, như một ngọn thủy-triều kia nó
đương cuộn cuộn chãy tới, làm cho tên ấy phải thình lòng
kĩnh phục, rồi ngước mặt ngó lại Đông-Sơ mà đáp rằng:

​Những lời quan-nhơn phân trần răng bão tôi đó, ví như
tôi đương mê mẩn trong một giấc ngũ kia, bổng nhiên
nghe một tiếng sấm sét nổ bên tai, làm cho tôi dực mình
mà kinh tĩnh, và như một ánh sáng kia dọi vào hang kín,
làm cho bao nhiêu những sự tối tâm mờ mệt đều tan mất,
mà ngó thấy một cãnh thanh thiên; một gương bạch nhựt,
hiển hiện ra trước mắt.

Bấy lâu tôi cũng như một đứa mắc chứng mê tâm, nay
gặp nhằm thuốc hay uống vào, làm cho tôi tâm thần đều
trở ra tráng kiện. Nếu tôi không gặp Quan-nhơn ngày nay
thì tôi tưởng từ đây sấp sau, tôi sẻ còn mang nhiều đều
tội lổi.

Vậy tôi xin thệ một lời giữa đây; tôi sẻ cải ác, tùng
lương, khữ tà qui chánh.

Tiểu-thơ thấy tên ấy đã hồi tâm tỉnh ngộ, thì bước ra rồi
nói rằng: « Ớ tên kia! nay mi đã ăn năn tội lổi cũa mi mà
cãi quá tự tân, thì ta cũng rộng lòng dung thứ. Vậy ta
khuyên mi phãi nhớ những lời cũa Quan-nhơn đây, cũng
như một kinh sấm hối, để mà siêu độ cái linh hồn mi cho
khỏi vòng tội lỗi. Và mi phãi nhớ rằng: cái đao mi đem
tới mà ám hại ta ngày nay đây, nếu mi không chừa cái
nghiệp tàng bạo ấy đi, thì ngày kia nó sẻ trở lại mà giết
mi một cách rất ghê gớm. Nói rồi thò tay vào áo, lấy ra
10 lượng bạc trao cho tên ấy mà dặn rằng: mi hãy lấy
bạc nầy về lo làm ăn đặng mà nuôi dưởng cái linh-hồn
mi cho ra một người tánh tình lương thiện.

Tên kia thò tay lấy bạc rồi cúi đầu cám ơn mà đi. Đó
rồi Tiểu-thơ day lại nói với Đông-Sơ rằng: « Quan-nhơn
ngày nay cứu tôi khỏi tay cường-bạo ấy, thì ơn đó tôi sẻ
tạc dạ ghi xương, dẩu ngàn năm cũng không quên ơn tri-ngộ, và nếu Quan-nhơn vui lòng, thì cho tôi biết quí danh
và quí xứ. »

Đông-Sơ nghe nói thì phới phở mừng thầm, liền lấy
cái danh-thiếp cũa mình ra trao cho Tiễu-thơ và nói:
« Nếu Tiễu-thơ có lòng hạ cố, thì tôi xin gạn tỏ một lời….
nói tới đây thì kế một con Thễ-nữ ngoài cữa bước vô,
chạy lại thưa với Tiểu-thơ rằng: ông đòi cô vào dạy
chuyện.

​Tiễu-thơ nghe cha là Binh-bộ Thượng-thơ đòi, thì từ giả
Đông-Sơ rồi lật đật đi cùng thễ-nữ. Còn Đông-Sơ thì ghé
mắt ngó theo một hồi rồi cũng vội vã bước ra. Bổng thấy
một cái khăn lụa rớt dựa mé thềm, liền lượm lên xem;
thấy trong khăn có thêu một nhánh bông Mẩu-đơn rất
tốt, một bên chéo khăn lại thêu 3 chữ « Bạch-thu-Hà »
hảy còn thoản thoản hương trầm, mùi thơm phất mủi.
Đông-Sơ biết là khăn cũa tiễu-thơ, liền bỏ vào túi rồi
trở về Thơ-viện.

Khi Đông-Sơ trở về đến nhà, lấy khăn ra xem, sâm soi
và hun hít cái mùi hương trầm hảy còn thơm tho phưởng
phất.

Đoạn một mình ngồi với ngọn đèn leo léc trong Thơ-phòng mà thầm thương trộm nghĩ rằng: thật cái buổi chiều nay là một buỗi rất may mắng kỳ phùng, khiến cho
mình đặng thi ơn mọn với Tiễu-thơ, mà làm cho Tiểu-thơ
mang ơn chác nghĩa và làm cho mình đặng diệp mà nhìn
xem cái vẻ sắc nước hương trời cũa một người
giai nhơn thục nữ, và cái khăn nầy thế cũng một mai mối
chi cho mình chăng? Nếu chẳng vậy, thì dễ đâu thinh
không mà lượm đặng cái vật của người trong quê cát?
Thế thì cũng một cái nhơn duyên chi đây, nên mới khiến
cho mình gặp đều kỳ ngộ như vậy! Nhưng mà, không
biết tiễu-thơ người có rỏ thấu những đều tâm sự của
mình đây chăng, nàng có biết cho mình trong lúc canh
khuya đêm vắn, ngồi với một ngọn đèn leo lét nầy mà tư
tư tưởng tưởng đó chăng?

Ớ cái khăn kia ôi! Mi phải là một mai nhơn nguyệt lão,
đễ kết chỉ xe tơ mà dệt một mối ân tình của người hồng-nhan với kiết-sĩ đó chăng?

Ớ cái bông mẩu-đơn trong khăn nầy ôi! có phải mi khoe
cái vóc Thiên-hương đẹp đẻ, mà trêu ngươi cho kẻ mến
người thương đó chăng? Hay là mi khoe cái màu quốc sắc
tốt tươi, mà làm cho người mê kẻ đấm đó chăng?

Đông-Sơ những mãng thầm thương trộm nhớ mà trằn
trọc canh tràng, rồi dựa gối mơ màng, thì lẫn bẩn đã canh
tàng đêm lụn.

​Kế có Thơ-đồng bước vô kêu rằng: « Thưa quan-nhơn,
trời đã gần sáng, xin quan nhơn tĩnh giấc đặng sắm sữa vào
trường.

Đông-Sơ thức dậy sắm sửa áo khăn, và trà nước xong
rồi, liền đi vào trường ứng thí.

(Nguyên khoa nầy là khoa tuyển một Tấn-sĩ, nên phải
văn vỏ toàn tài, thì mới đặng vào ứng thí, một bữa khảo thí
trường văn một bữa khảo thí trường vỏ. Vì vậy nên Đông-Sơ phải vào trường văn trước rồi ngày mai sẻ qua diển
trường thí vỏ),

Nguồn: Wikisource tiếng Việt — Giọt máu chung tình/Hồi thứ tư. Văn bản được nhập và định dạng lại; CC BY-SA 4.0, có thể áp dụng điều khoản bổ sung của tác phẩm.

Phím ← / → để chuyển chương. Bạn có thể điều chỉnh cỡ chữ và nền đọc theo sở thích.