HỒI THỨ NĂM
Gởi mật thơ ám kế hại anh hùng
Xin thi vỏ diển trường tranh Tấn-sỉ
Khi Đông-Sơ nạp vở trường văn rồi về nhà thì trời đã
tối. Cơm nước vừa xong, kế Tú-Tài Trần Đạt đến viếng.
Hai người liền dắc tay ra nhà sau chuyện trò đàm đạo.
Trần-Đạt nói: « Hôm nay anh đã vào văn trường rồi,
vậy chẳng biết anh có tính vào diễn trường mà thí vỏ
chăng? »
Đông-Sơ nói: « Hội công danh ai ai cũng muốn, lẻ đâu
tôi dám bỏ qua, còn quới hữu tính lẻ nào, xin nói cho tôi
biết với. »
Trần-Đạt nói: « Tôi vẩn tài còn sơ siễn, sức khó tranh
đua, khoa nầy tôi chịu nhịn thua, đễ khoa khác sẻ ra ứng
thí, cũng chẳng muộn. »
Đông Sơ nói: Hỗm nay quới hữu có đều chi lạ chăng?
Xin nói cho tôi biết với?
Trần-Đạt nói: Không chi lạ hơn là con ma bốn cẳng.
Đông-Sơ nghe nói thì ngó Trần-Đạt và lấy làm lạ rồi
hỏi:? Mà quả thật có ma sao?
— Quã thật như lời thằng Thơ-đồng của anh nó nói
với tôi hôm nọ.
— Mà con ma ấy làm sao? Xin quới-hửu thuật lại cho
tôi nghe thữ?
Trần-Đạt nói: « Đêm hôm qua khi tôi đi ngũ, tôi có để một cây gươm trên đầu giường, rồi tắc đèn lại
nằm, và lóng nghe cho tới canh tư, song tôi không thấy
một chi lạ hết, tôi mới nghĩ thầm rằng: Đó là chuyện
huyễn hoặc, người ta đặt đều đặng nhát mình chơi vậy
thôi, chớ ma đâu có. Đó rồi tôi ngũ cho tới sáng, qua đêm
sau tôi cũng còn hồ nghi, nên khi vô buồng đi ngũ cũng
có để cây gươm trên đầu giường, rồi nằm lẳng lặng
làm thinh, mỡ mặt lóng tai mà nghe coi có chi lạ
không. Xảy nghe trống trỡ canh ba, mà không thấy
chi hết, hai con mắt đã sập mi mơ màng, bổng nghe
một cái sạt, trên rường nhà, tôi dựt mình mỡ mắt
trao tráo và ngóc đầu dậy đặng nghe cho rỏ. Kế nghe
một cái rẹt nữa, nghe rỏ thì là dơi đáp muổi nó bay, đó
rồi tôi cũng nằm lẳng lặng hàm thinh một hồi lâu, thoạt
nghe bên vách kia có tiếng rọc rạch, té ra rỏ lại thì chuộc
chạy dơi bay, mà nó làm cho tôi hồ nghi không ngũ đặng.
Đó tôi nằm lại một hồi mới vừa thiễu thiễu, thoạt nghe
tiếng cục kịch nơi cữa buồng, tôi lật đật ngóc cổ dậy dòm,
thì thấy một bóng đen thui, thắp thoán qua cữa, tôi nói
thầm rằng phen nầy chắc nó. Kế đó cái bàn nhỏ trên đầu
dường tôi thinh không ngã xuống; thì tôi thấy bóng con
quái ấy xốc lại dường như muốn chụp tôi, tức thì tôi
nhãy xuống dường rồi huơi gươm chém xuống một cái rất
mạnh, làm cho cây gươm lút vào trong vách, thì thấy con
quái ấy tràng qua phía dường tôi, rồi mất.
Tôi liền nhảy lại chận ngang cữa buồng, một tay nắm
cánh cữa, một tay cầm gươm mà thũ, sợ con quái ấy
thoát ra. Đó tôi la lên: Bớ người ta, ma, ma, xin đến
tiếp cứu.
Mấy người ở gần nghe la thì chạy lại, kẻ cầm hèo người
xách gập, đứng lấp ló nơi cữa, mà chẳng dám vô,
tôi lại la lên rằng: Tôi đã chận đặng nó đây, hảy đem
đèn vô, cho kíp.
Mấy người liền đem đèn vô, rồi hỏi: Nó đâu, nó đâu?
Tôi nói: Nó đây, nó đây, họ bèn đem đèn lại rọi vào
buồng, thì không thấy chi hết. Tôi nỗi nóng nhảy lại lấy
đèn rọi dưới giường, cũng chẳng thấy chi. Tôi bèn rọi dựa cái tủ đễ nơi dưới góc giường, thì thấy một đống đen thui
hai mắt ngó lườm lườm, hơi thở khò khè, nhăn răn trắng
nhẻ. Tôi liền la lên, nó đây, nó đây, mấy người đem đèn
rọi coi, thì thấy rỏ ràng một con chó mực đương ngồi xo
rỏ. Ai nấy ngó nhau chưng hững, rồi cười ngất một hồi.
Còn tôi thì bị thức trọn hai đêm, mắt đổ hào-quang, nghĩ
cũng tức cười, mà cười không ra tiếng. »
(Vậy tôi xin phê dưới đây ít hàng cho khán quan xem
chơi giãi muộn).
Khi đương tối tâm sớ sết, thì tưởng chó là ma; chừng
xem tường tận rỏ ràng, mới biếi ma là chó.
Khẳn khái bấy tên Tú-tài huơi quyền mà dụng vỏ; giận
đổ thần hung.
Tội nghiệp thay con chó mực, bị đánh đã kinh hồn, sợ
ngồi cú rủ.
Té ra trót đêm chẳng ngũ, anh Tú kia khũn khĩn nghĩ
cười thầm.
Ôi thôi! Nhắm thế không xong, con chó nọ nguýt đuôi
rồi khự mất.
Trần-Đạt nói rồi ngước mặt cười hà hà, Đông-Sơ
thấy vậy cũng tức cười nôn ruột. Đó rồi hai người dắc
nhau ra trước Thơ-phòng. Đông-Sơ liếc mắt bỗng
thấy một cái thơ, đễ trên bàn và một ngọn dao cấm
lũng ngang phong thơ, lúc tuốc xuống ván, thì sửng sờ và
lấy làm một sự quái gỡ. Liền bước lại xem phong thơ ấy,
thấy ngoài bao đề « Vỏ-đông-Sơ khai khán » tức thì lấy
thơ xé ra coi, coi rồi sắc mặt liền đỗi.
Trần-Đạt thấy vậy bước lại và hỏi: Chẳng biết thơ ấy có
sự chi lạ chăng! mà sao tôi xem anh dường có sắc kinh
nghi tràng ra nét mặt ? »
Đông-Sơ thấy hỏi thì trao thơ ấy cho Trần-Đạt xem,
trong thơ nói như vầy:
« Vỏ-đông-Sơ, ta nói cho ngươi biết rằng: khoa Tấn-Sỉ
nầy ngươi phải nhượng lại cho ta, thì ta chẳng nhửng
cám ơn, mà lại còn trọng đáp. Bằng không, thì trước
khi tới diển-trường, ngươi sẻ như cái thơ với cây đao
nầy vậy. Chừng ấy ta e cho ngươi ăn năn đả muộn.
Xem thơ rồi 2 người ngó nhau sững sờ, dường như
sấm nỗ vang tai, đất bằng dậy sóng.
Trần-Đạt hỏi: vậy mà trong ý anh có biết chắc ai gởi
thơ nầy không?
Đông-Sơ nói: tôi chẳng quen với ai, và củng chẳng biết ai
hết, song theo ý tôi tưởng, cái thơ nầy là như một cái hình
giả kia, đễ nhác chim sẻ sẻ đó thôi. Còn tôi thì chẳng hề
nhượng khoa nầy cho ai cả, thà tới diễn-ìrường, tranh tài
đấu lực, chừng đó đắt thất sẻ hay, lẻ đâu vì một lá thơ
nầy, mà làm cho lòng công danh bãn lãng.
Trần-Đạt nói: song anh cũng phãi cẩn thận đề phòng,
những đều bất trắc.
Đông-Sơ gặt đầu và nói; phãi, nhưng cái thơ rơi đó là
một sự dọa hẩm của kẻ tiểu nhơn, chớ chẳng phãi người
anh hùng khí phách, xin quới-hữu chớ nhọc lòng nghi
ngại. Đó rồi Trần-Đạt từ giả trở về; Đông-Sơ vào phòng
còn nằm suy nghĩ, xảy nghe ngoài cửa có tiếng cục kịch,
kế nghe một tiếng dường như vật chi rớt xuống đất vậy.
Đông-Sơ lật đật đem đèn ra coi, thì thấy một phong thơ
rớt nằm dựa cửa, liền buớc lại lượm lên rồi dở ra coi thì
thấy trong thơ nói như vầy:
« Kính vài lời cùng quan-nhơn rỏ: truớc khi ra diễn-tràng, đi ngan qua một cây đại thọ dựa ngả ba đường,
thì xin phãi đề phòng cẩn thận, vì chỗ đó sẽ có người
tàng ẩn mà ám hại quan-nhơn, chẳng nên sơ thất mà
mang họa.
Đông-Sơ xem rồi nghỉ nghị trong trí một hồi mà cũng
không hiểu thơ ấy của ai, thật là một đều rất lạ, rồi tầm
tư tự nghỉ rằng: lạ thay! như cái thơ trước là thơ hâm
dọa người nên không ký tên cũng phãi, chí như thơ nầy
là thơ ơn, song chẳng rỏ cớ nào mà không ký tên, cũng
một đều rất quái. Hai cái thơ ấy làm cho Đông-Sơ, trót
đêm bối rối trí khôn, đứng nghĩ ngồi suy, nằm chẳng an
nơi, ngủ không ngon giấc.
Bổng nghe Đông-Thành văn vẳn trống đã sang tư, gương
thỏ bóng tà, inh ỏi canh gà dục thúc. Đông-Sơ bèn thức
dậy trà nước rồi, sắm sửa y cân, thì Thơ-Đồng đã thắng
ngựa gát yên, đứng chờ trước ngỏ. Đông-Sơ nai nịt xong rồi,
bèn giục ngựa lên đường, nhắm diễn-trường thẳng tới. Còn
Thơ-Đồng và Trần-Dạt cũng thĩnh thoãn nối gót theo sau.
Khi Đông-Sơ đi đặng một đổi, gần tới ngã ba, liết thấy
phía trước xa xa, có một tàng đại-thọ rất lớn, thì nhớ
trong cái thơ sau có dặn rằng hể tới đây thì phãi đề phòng
cẩn thận. Vì vậy nên Đông-Sơ rúc gươm cầm nơi tay, rồi
dục ngựa chạy mau, còn mắt thì nhắm trước xem sau,
thấy hai bên đường bụi cao bụi thấp, trong lúc bóng trăng
nhắp nhán, cây cỏ lờ mờ, dặm quang sang, bương bã bước
anh hùng; cương tuấn mã xông pha đường lữ khánh. Kế
đó thình lình bổng nghe một cái rẹt, thì thấy trước mặt đã
xẹt ra một mũi tên, phăn phăn thẳng tới, Đông-Sơ liền né
qua, thì mủi têng ấy bay xớt bên tai, rồi đi tuốc. Têng nọ
vừa qua, kế một mủi têng nữa bay tới. Đông-Sơ liền lấy
gươm gạt một cái, têng ấy rớt ngay xuống đất. Đó rồi Đông-Sơ quất ngựa chạy tuốc ra diển-truờng. Chạy đặng một
đổi xa xa, thì trời đã rạng đông, ác vừa lộ bóng.
Đông-Sơ liền gò cương dừng ngựa, rảo mắt ngó quanh,
Bổng thấy bên thành, cỏ cây lúp xúp, người ngựa lao xao,
chín giữa có một đài cao trước mái cậm một cây long-kỳ
gió bay phưỡng phất, hai bên giáo gươm la liệc, quân-ngủ
sấp hàng, ấy là một chỗ diển trường, xem rất nghiêm trang
tề chĩnh. Kế nghe trống chiên inh ỏi, gióng đủ ba hồi, thì
thấy ba vị đại-thần, cỡi ngựa bước ra, rồi lên diển-trường
mà ngồi, xem rất oai-nghi lẩm liệt, đó là ba vị giám-khảo.
Còn chung quanh diển-trường, nào là nho-sĩ, nào là vỏ-sanh kẻ ở thị-thành, người trong thôn-lý dắc nhau náo
nức đến xem đứng đã chậc đường, đông dường nhóm chợ.
Xảy thấy phía Nam thoạt ra một người cởi ngựa hồng-lô, tướng mạo khôi ngô, y cân tề chĩnh, dục ngựa thẳng
ra trước diễn trường, rồi một tay gò cương, một tay chống
nạnh, đứng cách kiêu hảnh nghiêm trang, rồi rảo lại đi
qua, xem rất xuê xang oai vỏ.
(Liệc vị khám-quan xem tới đây thế cũng ấm ức trông mong, mà coi người cỡi ngựa hồng-lô nầy là ai cho biết.
Nhưng mà người nầy chẳng lạ, vốn tôi đã nói ló một sự
tích xáng qua trong khoãn trước đây, song tôi còn núp ngòi
bút mà ẩn danh, làm cho liệc-vị khán quan nhọc lòng trông
đợi chơi trong một giây phúc. Vậy tôi xin dẹp cái diễn-trường lại đó một chút, đặng chĩ người cởi ngựa hồng-lô nầy cho khán-quan rỏ trước.)
Nguyên người nầy tên là Bạch-xuân-Phương vẩn là con
của một vị Binh-hộ Thượng-thơ ở tại Tây-viên là anh ruột
của một vị Tiễu-thơ Bạch-thu-Hà, tôi đã nói trong hồi truớc.
Nguyên cách hai ngày trước, Bạch-xuân-Phương nghe
Vỏ-đông-Sơ ra tranh Vỏ-khoa Tấn-sĩ, thì kêu một tên bộ-hạ tâm phút là Hồ-Hợi, vào thơ-phòng mà dặn rằng:
« Nội đêm nay ngươi phải ra núp tại ngã ba cây đại-thọ,
đặng chờ Đông-Sơ đi ngang qua mà giết cho được, trước
khi nó tới diễn-trường, chẳng nên sơ thất. » Chẳng dè tiễu-thơ Bạch-thu-Hà đứng sau bình-phong lóng tai nghe, biết
anh mình thiết kế mà ám hại Đông-Sơ, đặng tranh khoa
tấn-sĩ, thì lật đật trỡ lại tư-phòng, rồi thầm lo trộm nghĩ
rằng:
« Vả Đông-Sơ là người đã thi ân cứu mạng của mình
trong lúc gặp thằng cường bạo tại Quan-âm-Cát, và lại là
một người hào ba phong nhả, đáng mặt thiên tài, nếu
tạ thị bàng quang, mà điềm nhiên đi, thì chẳng những
mình là ra kẽ vô tình, đễ cho anh mình hại một vị anh-hùng tuấn-kiệt, thì lòng nầy sao nở.
Tiểu-thơ nghĩ như vậy. liền lại văn-phòng viết một cái
tư-thơ, rồi sai con thễ-nữ tâm phúc, biễu đem thơ ấy lập
tức bỏ tại trước cữa Đông-Sơ, đặng cứu người cho khỏi
lâm đại họa. Song không cho Đông-Sơ biết mình là ai.
Nên không ký tên thơ ấy. Vì vậy nên Đông-Sơ mới khỏi
lâm cái mũi tên độc thủ trong lúc tâm tối giữa đường.
Còn anh Bạch-thu-Hà là Xuân-Phương chắc là Đông-Sơ
thế nào cũng chẳng thoát khỏi mũi têng kia ghiêm vào gan
ruột, nên khi cỡi ngựa tới diễn-trường, thì coi bộ hiu hiu
tự đắc.
(Tới đây xin tiếp luôn theo khoản trên đã nói khi nảy).
Trong lúc Bạch-xuân-Phương đứng trước diển tràng
rão mắt ngó 4 phía, bỗng thấy Vỏ-đông-Sơ cởi ngựa đứng
phía bên kia, thì sẫu ruột nhăn mày sững sờ và lấy làm
lạ, chẳng dè Đông-Sơ thoát khỏi cái độc kế mà tới
đặng diển-trường! Kế nghe trên diễn-đài một vị giám quan
kêu tên Bạch-xuân-Phương vào trường ứng thí.
Bạch-xuân-Phương lật đật bước tới cúi đầu thi lễ rồi lấy
cung têng cởi ngựa chạy một vòng, nhắm kim-tiền mà bắn,
bắn 2 mủi đầu đều lọt vào lỗ kim-tiền, còn mũi thứ 3 thì
trúng ngoài vành mà thôi, không vô lỗ đặng.
Kế tới phiên Đông-Sơ cũng cởi ngựa chạy một vòng, rồi
dương cung ráp tên nhắm kim-tiền, xạ luôn 3 mủi đều
vô lổ hết. Các người coi đều khen hay.
Đông-Sơ quày ngựa lại trước diễn trường cúi đầu, rồi
trở ra một bên mà đứng. Xãy thấy Xuân-Phương cởi ngựa
ra thưa với 3 vị Giám-khảo rằng: « Đông-Sơ chẳng phải
giỏi. ấy là may mà trúng đó thôi. Như Đông-Sơ thiệt tài,
thì tôi xin thí vỏ, chừng ấy mới biết sức hơn thua, và biết
tài cao thấp. »
Ba vị chủ khảo thấy Xuân-Phương kêu nài, thì hạ lịnh
cho, nhưng không dùng gươm giáo thiệt, e rũi thương
nhằm tánh mạng, phải dùng trường côn vấn giẻ hai đầu
mà thôi; đó rồi truyền quân sắm sữa hai cây, cân phân
bằng nhau, đễ trước diển-trường cho hai người lựa chọn.
Đông-Sơ nhường cho Xuân-Phương lấy trước, rồi Đông-Sơ lấy sau. Bỗng nghe trên đài dục trống ba hồi, vừa dức
thì 2 người mới ra tay thũ đoạn.
Nguyên Bạch-xuân-Phương bộ tướng gình-giàn, vóc
hình cao lớn, còn Đông-Sơ thì nhỏ hơn vài phân, ước một
mười với một tám vậy. Vì vậy nên Xuân-Phương chắc ý,
thế nào cũng thắng đặng Đông-Sơ, khoa Tấn-Sĩ nầy sẻ vào
tay mình chớ ai dám vô mà tranh đặng. Còn hai bên diễn-trường thấy Xuân-Phương sức lực mạnh mẻ bộ tướng dềnh
dàng, thì ai ai cũng nghi sợ cho Đông-Sơ không bề thắng nỗi.
Khi hai người thũ 2 ngọn trường côn rồi xáp lại, kẻ
đánh người đâm, kẻ gạt người đở, xem thấy hai ngọn
trường côn qua lại liền vo, tới lui vùng vục, làm cho cát giậy bụi bay xung xăng, mù mịt như khói. Đánh nhau một
hồi như lưỡng hỗ hạ san, dường giao long xuất hải, làm
cho hai bên diển-tường, ai ai đều lẵng lặng làm thinh, mắt
ngó châm châm xem thôi sững sốt.
Kế đó Đông-Sơ quày ngựa nhảy ra, thì Xuân-Phương đỗi
qua miếng Phi-tiên, hai tay nắm đầu roi trường côn, vục
vục như chóng chóng, chơn thì giục ngựa xốc tới, coi thế
dữ dằng. Còn Đông-Sơ thì rão ngựa chạy quanh, như gà
kia xỏ lá.
Xuân-Phương cứ huơi côn vục vục xốc tới, thiên-hạ ai
ai cũng chắc lưỡi lắc đầu, sợ cho Đông-Sơ sức yếu tài sơ
mà cự địch không nỗi. Chẳng dè Đông-Sơ thình-lình quày
ngựa lại lẹ làng, rồi huơi côn bắt ngọn roi của Xuân-Phương
một cái rất mạnh, đến đổi ngọn roi của Xuân-Phương đương
vục vục như giông, bỗng chúc văng ra xa hơn 4 trượng,
làm cho Xuân-Phương và ngựa đều day ngan như bườm
kia bị gió thổi mạnh đứt lèo, làm cho ghe day theo mà
muốn lật đi vậy, rồi mắt đỗ hào quang cã và tay chơn đều
rúng động.
Đông-Sơ thừa diệp ấy, hai chơn nhảy đứng trên lưng
ngựa mình, rồi đạp một cái nhảy phóc qua hất Xuân-Phương một roi, té nhào xuống đất, ngó lại thì Đông-Sơ đã ngồi trơ trơ trên ngựa Hồng-lô, nhởn-nhởn
nhơ-nhơ, hình như Tiết-nhơn-Quí ở nơi Sơn-đông, cởi
ngựa Huỳnh-phiêu, dường như Lữ-phụng-Tiên đứng trước
Viên-môn, tay gò Xích-thố. Cả thãy hai bên diễn-trường
đều la lớn lên một tiếng hay, hay, như sấm dậy vang tai,
rồi rần rần vỗ tay bốp bốp như pháo nỗ. Miếng nầy gọi
là « Đại bàn phi thạch động, Sư-tữ thượng lầu đài. » Đó
rồi Đông-Sơ cởi ngựa thẳng tới trước diễn trường cúi đầu
mà từ tạ.
Còn Bạch-xuân-Phương bị té một cái, làm cho trật mũ
rớt khăn, rồi xẻn-lẽn ra về, như Tào-a-Man thất trận.
Nguồn: Wikisource tiếng Việt — Giọt máu chung tình/Hồi thứ năm. Văn bản được nhập và định dạng lại; CC BY-SA 4.0, có thể áp dụng điều khoản bổ sung của tác phẩm.
