Giọt máu chung tình — Hồi thứ hai mươi lăm

HỒI THỨ HAI MƯƠI LĂM

Cơn lận đận tai qua rồi họa tới

Lúc thình lình, nghĩa củ gặp tình xưa

Lúc nầy trăng sáng mờ mờ, mưa tro pháy pháy. Thu-Hà
với Triệu-nương ngồi trong than thở, và sắc mặt dăng phủ ​một lớp màn sầu, lớp thì lo cho Triệu-Dỏng chẳng biết
đi đâu, lớp thì thương cho Triệu-nương vì nghĩa theo
mình, mà phải anh em phân rẻ, ngoài trước thì hai tên
đánh xe làm thinh lẳng lặng, chỉ lo giục ngựa chạy mau,
trong lúc đường vắng canh khuya chẳng nghe chi lạ hơn
là nghe những tiếng vó ngựa nó hòa với tiếng bánh xe,
bỏ vận kịch kịch re re, chạy nghe rần rần rột rột, làm
cho khách hồng nhan lạc bước, nghĩ tới khúc biệt hận ly
sầu, thì ngơ ngẩn về đâu, rồi giọt lệ chứa chan, mà phải
hồn tiêu phách lạc, chẳng bao lâu xe đã ra khỏi tĩnh
thành, và phăn phăn thẳng vào đồng nội, quanh qua lộn
lại, chạy ước hồi lâu, ngựa đã đỗ mồ-hôi, mà đường còn
xa thâm-thẫm.

Khi chạy tới mé rừng, bổng thấy một cái quán ở dựa
bên đường, tên đánh xe nói: xin để ngừng xe nghĩ ngựa
một chúc cho khoẻ rồi sẻ đi.

Vương-Bích và Bạch-xuân-Phương cũng đều xuống
ngựa và dắc lại cột nơi mé rừng, rồi cả hai vô ngồi trong
quán.

Nguyên hai người nầy là hai tay bợm rượu, đã quen
theo cuộc tửu điếm trà đình, nên thấy trong quán có đễ
ít hồ rượu ngon, hơi bay nực mũi, thì con trùng rượu
trong bụng đã rọ rạy bò lên, làm cho hai cậu thấy rượu
thì ngứa cỗ bắt thèm, liền kêu tên quán biểu đem một hồ
rót ra, rồi hai người chén tạc chén thù, và uống và chuyện
trò rỗng rảng.

Kế tên mặt áo tơi ngoài xe bước vô, lại trước hai cậu
và nói: thưa nhị vị quan-nhơn, ngựa của nhị vị hôm giờ
chạy mệt, vậy để tôi dắc ra sau, kiếm cỏ cho ăn, đặng
nghĩ một chúc cho khoẻ rồi sẻ đi cũng chẳng muộn.

Vương-Bích nghe tên kia hỏi vậy, thì nói: ừ, được vậy
thì tốt. Nói rồi day lại uống rượu và đàm đạo với Bạch-xuân-Phương.

Tên mặt áo tơi kia lật đật lại mở hai con ngựa dắc ra
phía sau rừng, rồi lấy roi đóc mổi con một roi rất mạnh,
hai con thất kinh nhảy sãi vô rừng rồi chạy mất; tên ấy
liền trở ra xe nói nhỏ với Thu-Hà và Triệu-nương rằng: ​xin Tiểu-thơ và em ngồi cho vững, đặng tôi giục ngựa chạy
mau, bây giờ phải tính kế thoát thân, dỉ đào vi thượng,
thì mới khỏi.

Hai cô nghe nói ngó lại, thấy tên ấy là Triệu-Dỏng mà
giả dạng mặt đồ theo mấy đứa đánh xe, thì ngạt nhiên
chưng hững, Triệu-Dỏng nói rồi liền nhảy lên ngồi trước
cỗ xe, quức ngựa một roi, la chạy. ngựa ấy thình lình bị
quức một roi, thất kinh nhảy dựng hai chơn trước lên rồi
mang xe vục chạy.

Bạch-xuân-Phương và Vương-Bích đương ngồi chuyện
trò uống rượu, bỗng thấy xe chạy, lật đật bước ra kêu xe,
xe ngừng lại, ngừng lại.

Triệu-Dỏng nghe kêu càng quức ngựa chạy mau, hai
người kêu thôi rát họng, mà xe chẳng chịu ngừng, bèn
chạy ra sau tính cởi ngựa rược theo, nhưng ngựa đã mất
đâu chẳng thấy.

Hai người lính quính đương đứng ngơ ngẩn ngó mông
một hồi rồi chạy tuông vô rừng mà kiếm. Còn Triệu-Dỏng
ở trước xe, một tay cầm cương, một tay quức ngựa, xe
chạy như bay, tên đánh xe kia thấy Triệu-Dỏng đánh ngựa
thì nóng ruột nói thôi anh, thôi anh, gò cương cho chạy
chậm chậm kẻo đường sá tối tâm, nếu rủi ro đụng hố sụp
hầm, ắc chúng ta phải gảy tay lọi cẳng.

Triệu-Dỏng nói: không sao phòng sợ, ta biết cởi ngựa
cầm cương, có hề chi mà mi ngại, và nói và quức ngựa
trót trót, rồi day lại kêu Tiễu-thơ và nói: Xin Tiểu-thơ và
em ngồi cho vững.

Thu-Hà thấy Triệu-Dỏng giả dạng và thiết kế mà cứu
mình, thì khắp khởi mừng thầm, nhưng còn sợ một nỗi
hai người kia rược theo, nên và ngồi và day lại ngó chừng
đàng sau, mà trong lòng rất phập phòng hồi hộp.

Khi ra khỏi rừng rồi, thì trời trong trăng tỏ, hai bên
đường thì bụi cây lúp xúp truyền núi thấp cao, chạy đặng
một đỗi xa xa, xãy thấy một cây đại thọ sùm sề, và đường
phân ba ngã; một ngã chạy qua Nam-quang, còn một
ngã chạy qua phía Tây-bắc, Triệu-Dỏng đứng trước cỗ xe
ngóng coi một hồi rồi nói: Nếu chúng ta chạy ngã đại lộ ​Tây-bắc thì đường sá dể đi, song sợ Vương-Bích và Xuân-Phương rược theo, vậy phải chạy qua ngã Nam-quang
đặng kiếm chổ mà ẩn thân đào nạn thì mới tiện.

Tên đánh xe kia nói: Trời ôi! đường qua Nam-quang,
bụi bờ gay trở, rừng núi hiễm nguy lắm, nếu đi đường đó
thì ắc xe gãy ngựa què, gia tài tôi có con ngựa với cái xe,
để mà độ nhựt kiếm ăn, nêu anh biểu đi đường nầy, đặng
hại tôi cho chết đói sao? Tôi không đi đâu.

Triệu-Dỏng nghe nói nỗi xung, trợn mắt lườm lườm như
khu chén, ngó tên đánh xe kia và nói: Xe mi đã cho
ta mướn, thì ta đặng phép làm chủ trong lúc hành trình,
ta biễu sao mi phai nghe vậy, nếu mi-nghịch ý chẳng tuân
ta đạp mi xuống xe cho cọp ăn, chừng ấy mi đừng oán
trách, nói vừa dức, bỗng thấy trong bụi cây lúp-xúp, ló
ra hai ngọn đèn nhắp nhán sáng lòa, hồi đầu còn thấy xa
xa, phúc chúc đã lần lần đi tới.

Triệu-Nương bèn kêu Triệu-Dỏng và chĩ và la: Anh,
anh, đèn nhà ai lấp ló trong bụi kia cà, hay là đèn ma nó
hiện ra đó vậy?

Triệu-Dỏng với tên đánh xe vừa ngó lại, thì thấy hai
ngọn đèn ấy quả thiệt lần lần đi tới, kế nghe rống lên một
tiếng giậy đất vang rừng, chừng ấy mới biết hai ngọn đèn
đó là hai con mắt cọp, nó phóng xạ hào quang nên chiếu
ra như đèn thiệt kia vậy, tên đánh xe kia thất kinh la lên,
trời ôi! Cọp cọp kia kìa, và nói và rung như thằng-lằng
đức đuôi. Thu-Hà và Triệu-nương cũng đều kinh hải.

Triệu-Dỏng nói: Có tôi đây không sao phòng sợ, kế con
ngựa nghe oai cọp rống, thì oãn hồn vục nhãy như bay.

Triệu-Dỏng đứng trước cổ xe, hai tay nắm cương và
nói: Tiễu-thơ và em ngồi cho vững, nói rồi day lại hai
tay gò cương chừng nào, thì con ngựa càng nhãy rột rột
chừng nấy, còn xe thì lắt lại nghiên qua, vồng lên sụp
xuống như tuồng muốn lật.

Tên đánh xe kia hoãn vía kinh hồn, mặt mày tái lét, kế cây
gọng xe bên hữu súc ra, một đầu rớt xuống lòng thòng dưới
đường, đụng đất nghe khua lốp bốp, con ngựa bị cây gọng
lớp đập vào hông, lớp va vô cẳng, hoản kinh ngóng cổ ​ngay đui rồi nhảy nghe vục vục như tên bay, hai cánh tay
Triệu-Dỏng mạnh mẻ như thần, nhưng gặp nhằm con ngựa
nầy là ngựa tơ, vóc dạng lớn cao, sức lực rất nên hùng
tráng, chẳng kễ yên cương, không kiên kiều khấu, nên Triệu-Dỏng gò cương trì lại chừng nào, thì càng lôi xe lước bánh
mà chạy chừng nấy, hai bàng tay Triệu-Dỏng bị nắm cương
kềm thúc, đã mỏi rục phồng da, và nóng hực như lữa,
miệng thì kêu tên đánh xe kia, biễu coi chừng kẻo đức
dây lôi, song tên kia sợ té, hai tay nắm xe chắc cứng, còn
miệng thì la chết chết như gỏ thoi.

Thu-Hà và Triệu-nương trong xe thấy vậy cũng hoãn
kinh, song hai người đều nống trí dằng lòng, lẳng lặng
làm thinh, để cho Triệu-Dỏng tĩnh tề đặng lo mà kềm chế
con ngựa.

Lúc nầy ngựa đã chạy mập miếng mập mồm, và mình
thì đỗ mồ hôi như tấm. Bổng nghe Triệu nương kêu; Anh
anh, phía sau có người ta cởi ngựa ruợt theo kia kìa.

Triệu-Dỏng nghe nói ngó lại, thì thấy xa xa quã có hai
người đương giục ngựa chạy tới như dông.

Thu-Hà thất kinh kêu Triệu-Dỏng và nói: Trời ôi! nếu
anh tôi và Vương-Bích rượt theo, thì chúng ta ắc không
thế gì mà trốn khỏi.

Triệu-Dỏng nói: Xin Tiểu-thơ chớ lo tới đâu hay đó, kế
thấy trước đường có một cái cầu bắc ngan qua sông, hai
đầu cầu có xây bốn cây thạch trụ.

Triệu-Dỏng bèn ráng sức gò cương đặng nhắm thế qua
cầu, song gò cương chừng nào, thì ngựa cũng nhãy rột rột
như giông chừng nấy. Triệu-Dỏng thất kinh và tự nghĩ
rằng nếu ngựa nhảy như vầy, thì qua cầu ắc có rũi ro
nguy hiễm lắm, nhưng đương lúc tâm thần rối loạn, chẳng
biết tính sao, chĩ lo sữa ngựa kềm cương, rồi đánh liều
nhắm ngay giữa cầu mà chạy, và kêu Thu-Hà với Triệu-nương biễu phải vịnh xe cho chắc, hễ nghe la nhảy thì
nhảy cho mau, còn phía sau hai người cởi ngựa rượt theo,
rần rần chạy tới, bổng nghe tiếng kêu vẵn vẵn sau xa. Xe
xe, ngừng lại, ngừng lại.

Thu-Hà thấy cái cảnh ngộ rấp tới sau lưng, và cái tiền ​đồ hung hiễm trước mắt, thì ngồi trong xe mà thầm than
rằng: Trời ôi! cái cảnh ngộ gì mà bức trắc dang nan như
vầy, trước thì có sông cầu cảng trở, sau lại thêm người
ngựa rượt theo, chẳng biết cái thân nầy có tội lỗi chi với
tạo hóa thiên công, nên ngày nay khiến cho nợ hoan gia nó
cứ theo mải mải.

Ớ ngựa kia ôi! ta cùng mi vốn không thù hận, cớ sao mà
mi sanh chứng ác nghiệt dữ dằn? Mi chạy đi đâu mà chẳng
kễ bờ bụi yên cương? Mi chạy đi đâu mà chẳng kễ tiền
đồ nguy hiễm đó vậy? Hay là mi quyết đem ta mà bỏ vào
chốn cùng đồ tuyệt mạng, hay là mi quyết đem ta mà xô vào
nơi vực thẫm sông sâu đó chăng? nên mi vội vả lước dặm
băng ngàng, mà nhảy không ngừng vó, đó vậy?

Thu-Hà than vừa dức lời, thì thấy ngựa và xe đã nhãy
lấng lên cầu, kế nghe bánh xe đụng, vô trụ đá cái rầm,
Triệu-Dỏng la nhảy một tiếng rất lớn, thì xe và ngựa đã
nhào lăng xuống sông, xe văng một nơi, ngựa trôi một
phía.

Ôi! thãm thay cho Thu-Hà với Triệu-nương là hai gái,
mình hạc xương mai, thân bồ vóc liểu, mà gặp một tai
nạn rất dữ dằn xảy đến thình lình, như sấm nổ sét văng,
thì nghĩ sự chết sống con người, xem nhẹ như mảy lông,
và lẹ dường nháy mắt.

Ôi! thãm thiết thay cho Thu-Hà là một gái giai nhơn
tuyệt sắc, mà bị cái thời ma vận quỉ, nó cứ đeo đủi xui
dục vào chốn biễn nghiệt thành sầu, nó khiến cho gặp cái
trở lực rất khốn khổ đảo điên, gặp một cảnh ngộ rất dan
trưng hung hiễm, lúc dưới biễn thì bị sóng dồi gió dập,
khi lên bờ thì bị cãng trước ngăn sau, thương cho chúc
phận thơ đào; mới lên khỏi biễn lại nhào xuống sông!
nên sách Tàu có câu rằng:

[1]Ốc lậu cánh trùng liêng dạ vủ,
Thuyền trì hựu ngộ đã đầu phong.

Trong lúc tai lâm nạn chí, phách lạc hồn phi, kế hai
người cởi ngựa rượt theo vừa tới, bổng thấy phía trước xe
ngựa đều nhào xuống sông, thì thất kinh giục ngựa sải đến ​như bay, chừng tới đầu cầu thấy một người té trên động
cát, còn một người đương chới với giữa sông, người cởi
ngựa ấy tức thì nhảy xuống lội ra, vớt đem vô bờ, và day
lại nhìn mặt xem coi, thì sửng sốt tâm thần, và rất nên
khinh dị, rồi một tay ôm người ấy đễ trên đầu gối, còn
chơn kia thì quì xuống bãi cát và la lên rằng:

Uã nầy Bạch-thu-Hà phải chăng? Uã này tình-khanh
phải chăng? Thu-Hà nào đã trầm thân tự tữ? Còn Thu-Hà nào nay lại gặp đây?

Thu-Hà nghe hỏi dực mình, ngó lại thì cái trí mơ màng
kinh sợ khi nảy làm cho nàng ngơ ngẩn như giấc chiêm
bao, rồi tức thì la lên: Uã Vỏ-đông-Sơ! Uã lang….. tới
đây muốn kêu lang quân thì nghập ngừng mà nính lại, rồi
liền chờn vờn đứng dậy, lấy tay xô Đông-Sơ dang ra,
và nét mặt lộ ra một cách rất lơ là buồn bực, dường như
một người ngui lòng rủng chí, bạc ước vong tình, rồi cúi
mặt làm thinh, chẳng nói chi hết.

Kế Triệu-Dỏng dưới nước trồi lên, thấy thì tưởng Bạch-xuân-Phương với Vương-Bích, nên lật đật bương bã lội
vô, chừng lại gần thấy Vỏ-đông-Sơ thì mừng quính và la
lên rằng: Uã Vỏ-ân-huynh, Ân-huynh ở đâu rượt tới,
thình lình, làm cho tôi thất kinh, tưởng Bạch-xuân-Phương
nên đánh xe chạy hoản.

Đông-Sơ thấy Triệu-Dỏng và Triệu-nương thì mừng rở
chào hỏi lăng xăng, và nói: tôi đi tuần vãng phía Tây-bắc
trở về, dọc đường thấy xe, ngở là xe của bọn gian nhơn,
nên giục ngựa rượt theo, chẳng dè ngày nay chúng ta thình
lình, mà đặng nhứt trường tụ hội, thì cũng là một cuộc
rất hân hạnh kỳ phùng, làm cho những sự mơ tưởng ước
ao bấy lâu, nay thoạt nhiên đổi ra một cảnh ngộ rất vui
lòng toại chí.

Triệu-Dỏng day lại Thu-Hà và hỏi: Tiểu-thơ có hề chi
chăng?

Thu-Hà nói: không sao, kế nghe phía bên đầu cầu có
tiếng rên la, Đông-Sơ với tên bộ-hạ và Triệu-Dỏng lật đật
chạy lại coi ai, thì thấy tên đánh xe nằm dưới đầu cầu,
hai tay ôm chơn và rên và nói:

​Trời ôi! thời vận mạt rồi, gia tài rụi hết, ý ôi! ai khiến
cho tôi rủi ro đến thế, gặp chi cái mối ác nhơn, ý ôi! đã
làm cho xe gảy ngựa què, mà còn bị quẹo tay lọi cẳng
nữa chớ.

Trời ôi! tôi đã nói đường đi gay trở, mà còn một hai
cải sước chẳng nghe, may không chúc nữa ngựa đạp xe
đè, chắc phải dập sương lòi ruột mà chết, ôi, ôi, hại tôi
chi vậy, chuyến này tôi lãnh cái tay cáng vá, với cái cẳng
cà khiêu nầy đem về mà báo hại vợ con, ắt nó chưởi nghe
không hết.

Triệu-Dỏng nghe nói lật đật bước lại đở lên, thì thấy
chẳng chi trọng bịnh cho lắm, duy thấy tay thì cong cong
cáng vá cẳng thì nhắc nhắc cà khiêu, lưởi chắc chắc
như thằng-lằng, còn miệng la đau đau như seo-séo đó thôi.

Đó rồi Triệu-Dỏng hỏi Đông-Sơ rằng: Từ khi ân-huynh
cách biệt đến nay, chẳng biết ân-huynh đi đâu, xin nói
cho em rỏ?

Đông-Sơ nghe hỏi thì trả lời rằng: Từ khi tôi phụng
mạng tuần dương, dẹp yên hải khấu, rồi trở về gặp hiền-hữu tại sông Nhĩ-hà. Đó rồi về đông-kinh dưng địa-đồ
tỉnh Quảng-Đông cho Lê-công, chẳng dè gặp thơ-đồng
trao thơ cho tôi, nói rằng Tiểu-thơ bị anh là Bạch-xuân-Phương ép gả cho Vương-Bích, nên Tiễu-thơ không chịu,
bèn trốn qua Hải-ninh. Lúc đó tôi tính qua Hải-ninh đặng
tìm Tiểu-thơ. Kế có thánh-chỉ sai tôi đi tuần thủ Nam-quang. Khi đi ngang qua Quảng-yên, nghe nói Tiễu-thơ
lạc vào Sơn-động. Vì vậy nữa đêm tôi lên thám sơn-động
đặng tìm kiếm Tiễu-thơ.

Triệu-Dỏng hỏi: Khi ân-huynh lên Sơn-động có gặp
Tiễu-thơ không?

Đông-Sơ nói: Khi tôi lên sơn-động có gặp tên chủ sơn-động
là Hoàng-nhứt-Lang. Người nầy cũng là một tay anh hùng
hão hớn. Người bèn dắc tôi ra Thạch-đình đặng hội diện
cùng Tiễu-thơ, chẳng dè Tiễu-thơ để lại một phong thơ nói
rằng nhảy xuống biễn mà trầm thân tự tữ. Vì vậy tôi
tưởng Tiễu-thơ đã thác, bèn đến chùa Tây-hà. thiết lập ​bài vị đặng đễ phượng tự Tiễu-thơ. Chẳng dè Tiểu-thơ
còn sống mà ngày nay đặng gặp tại đây. Vậy thì chưa rỏ
duyên cớ thễ nào, xin hiền-hữu thuật lại cho tôi nghe thữ.

Triện-Dỏng bèn thuật khi cứu Tiểu-thơ tại Thạch-đình
rồi đưa thẳng qua Hải-ninh tìm gì mà không gặp, bèn vào
Lữ-quán đình trú, kế đó lại gặp Bạch-xuân-Phương và
Vương-Bích bắc Tiểu-thơ lên xe chở đi. Vì vậy tôi phải
thiết kế giả làm tên đánh xe mà cứu Tiễu-thơ thoát khỏi.

Đông-Sơ nghe rồi lấy làm mừng rở và cám ơu Triệu-Dỏng vô cùng. Rồi nói: Cảm phiền hiền-hữu kiếm coi
nhà ai gần đây, đặng dắc Tiễu-thơ và Triệu-nương tạm
vào ngơi nghĩ một chúc.

Triệu-Dỏng liền bước lên cầu ngóng xem bốn phía, xảy
thấy có một cái nhà ẩn ẩn trong chòm cây, ở gần mé lộ,
thì chĩ cho Đông-Sơ, đó rồi các anh em đều dắc nhan
vào nhà gỏ cữa.

Nguồn: Wikisource tiếng Việt — Giọt máu chung tình/Hồi thứ hai mươi lăm. Văn bản được nhập và định dạng lại; CC BY-SA 4.0, có thể áp dụng điều khoản bổ sung của tác phẩm.

Phím ← / → để chuyển chương. Bạn có thể điều chỉnh cỡ chữ và nền đọc theo sở thích.